Giúp truyền thống “thích nghi” trong nghệ thuật đương đại- Người đô thị

https://nguoidothi.net.vn/giup-truyen-thong-thich-nghi-trong-nghe-thuat-duong-dai-29440.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo&fbclid=IwAR29nzfAVTtUW0sRo-QJgr9RHcjrgoJ9h4BwSGaNd8GloiFwEG3R44y80qM

Bản sắc sau hội nhập, đi về đâu? Một câu hỏi không dễ để trả lời. Thế nhưng câu trả lời “một cơn gió bụi” đã xuất hiện trong bộ ảnh triển lãm của họa sĩ Nguyễn Thế Sơn tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam tháng 5 năm 2019. Đặc biệt gây ấn tượng với người xem là bộ ba ảnh chụp hiện trang trước và sau khi giải tỏa của cổng Nghĩa trang Trung Kỳ tại Hà Nội, một dấu vết ký ức có từ thế kỷ XIX. Vấn đề bảo tồn các giá trị truyền thống giữa bối cảnh biến đổi văn hóa hiện nay, đã từ lâu là mối quan tâm cấp bách của lĩnh vực văn hóa học, xã hội học, kiến trúc và quy hoạch, nay còn của một lĩnh vực khác, nghệ thuật đương đại.Truyền thống và nghệ thuật đương đạiTruyền thống và nghệ thuật đương đại, thoạt nhiên, dường như là hai song đề nghịch lý. Bởi, một đại diện cho hằng số của lịch sử, văn hóa, của quá khứ, còn một đại diện cho tân thời đại với chất liệu, kỹ thuật và quan niệm mới, của hiện tại và thậm chí tương lai. Sự kết hợp giữa cả hai, không khỏi khiến cho người ta nảy sinh hoài nghi về sự nghịch dung. Nghệ thuật đương đại, với những thành tố của nó như nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật đa phương tiện, nghệ thuật nghe nhìn (audio-visual) khi thoát ly khỏi nghệ thuật giá vẽ, đã là một cuộc cách mạng. Đầu tiên là cuộc cách mạng về không gian, từ nghệ thuật bề mặt hai chiều của màu sắc, đường nét và hình khối sang nghệ thuật của không gian ba chiều của vật thể. Nghệ thuật đương đại, về bản chất, là nghệ thuật ý niệm. Đặc trưng của nghệ thuật đương đại, nằm ở tính tương tác, khi người xem tham gia vào quá trình tạo nghĩa cho tác phẩm. Ý nghĩa của tác phẩm không đơn thuần chỉ là nghĩa chủ quan, nghĩa một chiều, của chủ thể sáng tác, tức người nghệ sĩ, trái lại, thông qua quá trình tiếp nhận và đồng sáng tạo của người thụ hưởng nghệ thuật, trở thành nghĩa kiến tạo. Tác phẩm nghệ thuật, do đó, không phải là một sản phẩm cố định, bất biến và đông cứng, bởi vì nó mang tính chất mở và có khả năng tạo nghĩa. Như Umberto Eco đã phát biểu, tính chất mở của tác phẩm là điều kiện cho sự thưởng thức thẩm mỹ, và mọi hình thức nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ cũng đều mở. Tính mở, một mặt, biểu thị cơ chế biểu ý và cái nhìn thực tại của tác giả, nhưng mặt khác, nó cho thấy không gian thẩm mỹ được nới rộng giữa tác phẩm và người xem, để mở ra những khoảng trống cho người xem tự lấp đầy. Song, nghệ thuật đương đại có khả thể kết hợp với truyền thống, một khi được đặt vào bối cảnh hậu hiện đại. Thuộc tính của hậu hiện đại là bao chứa, trưng dụng các giá trị tiền hiện đại, hiện đại dựa trên nguyên lý bao hàm. Yếu tố truyền thống những tưởng sẽ bị triệt tiêu, nhưng lại được vận dụng, lồng ghép để tạo ra những đặc sắc mới cho tác phẩm. Ý nghĩa lớn nhất khi đưa truyền thống vào trong nghệ thuật đương đại, chính là mở ra cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa truyền thống với hiện đại, để soi chiếu lẫn nhau. Mặt khác, tính chất tương tác của nghệ thuật đương đại cũng xóa bỏ khoảng cách hàn lâm với công chúng, đưa tác phẩm đến gần hơn với mọi đối tượng tiếp nhận. Không thể phủ nhận hiệu quả xã hội lớn của nghệ thuật đương đại, trong việc phổ biến và giáo dục các giá trị truyền thống. Nếu ở Việt Nam câu chuyện kết hợp còn nhiều bàn cãi, lưỡng lự, thì trên thế giới, sự kết hợp giữa truyền thống và nghệ thuật đương đại đã minh chứng thành công ở hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất về mặt phương pháp là nghệ thuật đương đại-truyền thống (contemporary-traditional art), sử dụng các kỹ thuật cổ điển trong hội họa, điêu khắc để thể hiện chủ đề văn hóa đương đại. Khuynh hướng này được đào tạo rộng rãi tại các cơ sở đào tạo nghệ thuật lớn trên thế giới như Học viện Nghệ thuật St. Petersburg, Nga và Học viện Nghệ thuật New York, Mỹ. Khuynh hướng thứ hai về mặt đề tài, là sử dụng nghệ thuật đương đại như một phương thức bảo tồn và giáo dục di sản văn hóa truyền thống, đã mang lại nhiều bài học thành công như ở tại New Zealand với trường hợp văn hóa Maori bản địa, ở Mỹ với Bảo tàng Nghệ thuật Châu Phi thuộc viện Smithsonian, ở Trung Quốc với Học viện Nghệ thuật Trung ương Bắc Kinh…Giải phân mảnh truyền thốngNếu truyền thống giữa bối cảnh hiện đại trở thành những phân mảnh rời rạc, thậm chí vỡ nát (nằm trong kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc…), thì cách làm của họa sĩ Nguyễn Thế Sơn là giải phân mảnh truyền thống. Những phân mảnh giá trị truyền thống được giải phân mảnh, tổ chức lại và tích hợp vào những tổ hợp chỉnh thể nghệ thuật đương đại. Đây, dường như cũng là một cách khả thi để bảo lưu truyền thống, duy trì sự tồn tại và kéo dài của truyền thống giữa những tác động biến đổi và tiếp biến. Sự thích nghi của văn hóa truyền thống, thông qua nghệ thuật thể nghiệm, chính là nhận diện và đồng dạng với những yếu tố tương thích đến từ văn hóa hiện đại, trong khi vẫn giữ lại những giá trị đặc sắc, đặc thù của riêng mình. Một trong những dự án hàn gắn đứt gẫy giữa truyền thống và hiện đại, chính là dự án “Từ truyền thống tới truyền thống” do Nguyễn Thế Sơn làm giảng viên hướng dẫn và giám tuyển, sinh viên chuyên ngành lụa và sơn mài, trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam thực hiện, với kết quả là triển lãm tranh lụa kết hợp với tranh Hàng Trống tổ chức tại đình Nam Hương (75 Hàng Trống – Hà Nội, thờ năm vị Thượng đẳng thần và công chúa Hà Duy), tháng 10, 2020. Nhắc đến tranh Hàng Trống, là nhắc đến một trong những di sản cổ truyền độc đáo của xứ sở kinh kỳ với lịch sử trên 400 năm, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, tín ngưỡng, thẩm mỹ và kỹ thuật chế tác đặc trưng. Nhưng bởi biến động lịch sử và xê dịch sinh kế, dòng tranh này đã trở nên mai một, chỉ còn được lưu giữ trong trí nhớ những vị cao niên và tại một số gia đình hay viện bảo tàng. Trước nguy cơ rơi vào quên lãng, tranh Hàng Trống chỉ có thể tồn tại nếu được thổi vào sức sống mới và đưa vào đời sống đương đại. Như một nỗ lực đối thoại và tiếp biến, các sinh viên tham gia dự án đã được tiếp xúc với nghệ nhân chân truyền cuối cùng của tranh Hàng Trống, Lê Đình Nghiên. Bằng nền tảng được đào tạo về tranh lụa và sơn mài, đồng thời được tiếp thu các kỹ thuật cơ bản của tranh Hàng Trống, các tác giả trẻ tham gia dự án đã ứng tác những tác phẩm thể hiện motif, tinh thần tranh Hàng Trống trên những chất liệu mới, cách thức mới, và quan trọng hơn, mang một tư duy mới. Hơn nữa, những tác phẩm được trưng bày trong không gian đình Nam Hương không chỉ đơn thuần mang giá trị nghệ thuật tự thân của mình, mà chúng còn tích hợp với những thành phần, cấu kiện khác để biến không gian ngôi đình cổ trở thành một chỉnh thể nghệ thuật công cộng hoàn chỉnh, mang tính chất của nghệ thuật tổng hòa.Triển lãm tiếp nối về tranh lụa mang tên “Chuyển dịch mong manh” diễn ra vừa qua tại Manzi Art Space, là một phần trong kế hoạch ươm mầm phát triển các nghệ sĩ trẻ của Nguyễn Thế Sơn, và không những vậy, song song tạo dựng một bộ phận công chúng trẻ yêu nghệ thuật, từ đó tìm hiểu và trân trọng các giá trị truyền thống. Trên chiếc cầu nối bắc ngang giữa truyền thống và hiện đại mang tên nghệ thuật đương đại, thì thế hệ trẻ là một nhân tố quan trọng, chuyên chở và tiếp nối ký ức. Nghệ thuật của nơi chốnMột vấn đề chung mà các nghệ sĩ nghệ thuật đương đại Việt Nam gặp phải, là bài toán về nơi chốn, tức không gian tổ chức. Ở Việt Nam, không gian cho các hoạt động nghệ thuật chia làm hai loại, bao gồm không gian công hữu và không gian tư hữu. Không gian công hữu, hay còn gọi là không gian công cộng, lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị định số 42/2009 của Chính phủ về phân loại đô thị, nhưng chưa được định nghĩa chính thức hay quy định cụ thể trong văn bản pháp quy. Không gian công cộng có thể là quảng trường, công viên, vườn hoa, khu chức năng, ví dụ như trong quy hoạch Hà Nội, không gian công cộng lớn nhất là khu vực Hồ Gươm, phố đi bộ, quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Tuy nhiên, thực trạng sử dụng không gian công cộng hiện nay vẫn chủ yếu xoay quanh việc tổ chức những sự kiện chính trị quan trọng của địa phương, không phải là nơi sinh hoạt văn hóa, giải trí của người dân, chứ chưa nói là tổ chức các hoạt động nghệ thuật. Muốn tổ chức hoạt động nghệ thuật tại không gian này, đòi hỏi phải có quá trình tương tác giữa nghệ sĩ và các cơ quản quản lý về hành chính lẫn văn hóa, hội đồng nghệ thuật, trong khi quá trình này không phải lúc nào cũng tìm được tiếng nói chung. Bởi lý do trên, các nghệ sĩ bắt đầu có khuynh hướng chuyển dịch sang loại hình không gian thứ hai, không gian tư nhân hóa, thuộc sở hữu tư nhân. Sự hợp tác này thường mang lợi ích song phương cho cả nghệ sĩ lẫn đơn vị tài trợ địa điểm. Các nghệ sĩ có không gian để triển lãm sắp đặt, còn đơn vị tài trợ địa điểm có cơ hội để quảng bá tên tuổi và đa dạng hóa hoạt động của mình. Nhưng việc sử dụng không gian này không phải là không có hạn chế đối với các nghệ sĩ, đặc biệt là các nghệ sĩ mảng điêu khắc – tạo hình và sắp đặt, bởi, các tác phẩm nghệ thuật của họ cần có diện tích trưng bày lớn, không gian mở, không bị bó hẹp trong nhà, để đáp ứng được tiêu chí tương tác đa chiều với người xem. Họa sĩ Nguyễn Thế Sơn chia sẻ, các dự án của anh chịu sự ấn định của nơi chốn. Nơi chốn, vừa là không gian vật lý để anh thiết lập tác phẩm, vừa là không gian văn hóa khởi sinh chủ đề của tác phẩm. Những tác phẩm nổi bật thực hiện tại không gian công cộng của anh có thể kể tới tác phẩm Máy nước thời gian và Những người chở, sắp đặt và bích họa, trên phố Phùng Hưng, 2018; tác phẩm sắp đặt Hành trình lịch sử, hai tác phẩm nhiếp ảnh Hà Nội – Huế – Sài Gòn, Đình Bảng tại đường hầm tòa nhà Quốc hội, 2018; tác phẩm Gánh hàng rong từ vật liệu tái chế inox gương và phiên bản hai tấm phù điêu Nông nghiệp và Ngư nghiệp tại Phúc Tân, 2020. Với mục tiêu hướng tới cộng đồng, khơi dậy ký ức cộng đồng về văn hóa và lịch sử, thậm chí còn góp phần cải tạo cảnh quan và nâng cao nhận thức về giữ gìn môi trường, các dự án và tác phẩm của Nguyễn Thế Sơn nhận được sự đề xuất và ủng hộ từ chính những người quản lý. Bên cạnh đó, Triển lãm nghệ thuật ECO-SUS mang chủ đề Phát triển bền vững, do Nguyễn Thế Sơn làm đồng giám tuyển, bắt đầu từ ngày 8 tháng 4 năm 2021, diễn ra tại khuôn viên Trung tâm Quốc tế khoa học và giáo dục liên ngành (ICISE), như một một minh chứng thành công bước đầu về một không gian tư nhân được khai thác, chuyển đổi mục đích sử dụng sang phục vụ nghệ thuật. Trung tâm ICISE do giáo sư Trần Thanh Vân – chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam (Pháp) – đầu tư xây dựng đặt tại Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, Bình Định. Tổ hợp này nằm trên diện tích rộng 20ha, cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 10 km, phía Đông là bãi biển dài 300m, phía Bắc là một khu rừng dừa và phía Nam là các vách đá. Hằng năm, trung tâm là địa điểm tổ chức hai mươi sự kiện khoa học quy mô trong nước và quốc tế, tiếp đón hàng nghìn nhà khoa học nước ngoài đến với Việt Nam. Mặc dù bối cảnh dịch Covid-19 diễn ra khiến các hội thảo quốc tế của trung tâm ít nhiều bị đình trệ, nhưng đồng thời lại tạo cơ hội cho một cuộc gặp gỡ giữa khoa học và nghệ thuật. Dự án Nước Mặn Làng Sông của anh trưng bày trong khuôn khổ triển lãm ECO-SUS, là kết quả của sự mê hoặc đến từ hai địa dư cổ, cảng Nước Mặn và Tiểu chủng viện Làng Sông, nơi có dấu chân của những giáo sĩ Dòng Tên Francesco Buzomi, Francisco de Pina, Cristophoro Borri, những người nghiên cứu và sáng chế chữ Quốc ngữ trong giai đoạn thô sơ nhất. Và sâu xa hơn, nó là một hành trình lịch sử – văn hóa nhằm tìm về cội nguồn chữ Quốc ngữ, khám phá một chặng quan trọng trong sự vận động ngôn ngữ Việt từ chữ Hán Nôm đến chữ Quốc ngữ. Bằng những dự án của mình, họa sĩ Nguyễn Thế Sơn cho thấy, truyền thống có thể được bảo tồn và mở rộng thông qua nghệ thuật đương đại. Truyền thống, lúc này, được tái cấu trúc, không những đồng hiện với hiện đại, còn góp phần phát triển không gian nhân văn của cộng đồng. Liệu đây có phải là một kiến giải cho các ngành xã hội khác về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống trong bối cảnh hiện đại?*Họa sĩ Nguyễn Thế Sơn sinh năm 1978 tại Hà Nội, tốt nghiệp chuyên ngành hội họa của Đại học Mỹ thuật Hà Nội và chuyên ngành Trung – Anh của Đại học Ngoại ngữ Hà Nội; thạc sĩ nghệ thuật chuyên ngành nhiếp ảnh nghệ thuật tại Học viện Mỹ thuật Trung ương Trung Quốc (CAFA). Hiện Nguyễn Thế Sơn làm giảng viên tại Đại học Mỹ thuật Hà Nội.Một số triển lãm gần đây: Đô thị và ký ức, triển lãm cá nhân (AGOhub, Hà Nội, 2018); Núi liền núi, sông liền sông, triển lãm cá nhân (Lumenvisum Art space, Hongkong, 2019); Collective City – thành phố tập thể, triển lãm cá nhân (Seoul Biennale, Hàn Quốc, 2019); Bản sắc và hội nhập, triển lãm nhóm (Đại học Mỹ thuật Hà Nội, 2019); Dự án nghệ thuật công cộng Phúc Tân (phường Phúc Tân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, 2020); Từ truyền thống tới truyền thống, giám tuyển (đình Nam Hương, Hàng Trống, Hà Nội, 2020); Chuyển dịch mong manh, giám tuyển (Manzi Art Space, Hà Nội, 2021); ECO-SUS – Phát triển bền vững (Trung tâm ICISE, Quy Nhơn, 2021)…

Comments are closed.